Thứ Hai, 3 tháng 3, 2014

Hồ sơ vụ thảm sát Duy Trinh




Hồ sơ vụ thảm sát Duy Trinh - Bài 1: Buổi sáng tang tóc
19/03/2009
Cách đây vài ngày, tại Quảng Ngãi, chính quyền và người dân địa phương vừa tổ chức tưởng niệm 41 năm ngày 504 thường dân vô tội bị thảm sát tại làng Sơn Mỹ. Đây là một bằng chứng về tội ác chiến tranh do quân đội Mỹ gây ra tại Việt Nam. Năm tháng sau sự kiện Sơn Mỹ, tại xã Duy Trinh (huyện Duy Xuyên, Quảng Nam) đã diễn ra một vụ thảm sát khác do lính Nam Triều Tiên - đồng minh của quân đội Mỹ tiến hành.

Căn hầm thành ngôi mộ chung
Quảng Nam 1968.
Những ngôi làng ươm tơ dệt lụa hiền hòa giờ lặng tiếng thoi đưa. Những mái nhà tranh trống hơ trống hoác. Người bị dồn vào ấp chiến lược, kẻ bỏ quê đi tránh mũi tên hòn đạn, thất tán khắp nơi. Chỉ còn lại vài gia đình bám trụ. Ban ngày họ nấp dưới hầm. Ban đêm bò ra canh tác. Nhiều gia đình ở vùng trắng Gò Nổi cũng dạt sang sông, trú nhờ các gia đình trụ bám. Đó là thời kỳ ác liệt nhất của vùng đất Duy Trinh.
Sáng 14-8-1968. Một buổi sáng dường như bình thường đối với các gia đình bám đất. Mặt trời đã mọc lên nhưng không có tiếng gà gáy. Không có cả tiếng chó sủa râm ran. Một sự im lặng chết chóc bao trùm.
Vào khoảng 8 giờ, lính Nam Triều Tiên đóng tại Hòn Bằng, cách Duy Trinh chừng 400 m bắt đầu càn vào làng. Vừa đi chúng vừa bắn. Từng loạt đạn đe dọa vang lên khắp nơi xé tan sự im ắng thường ngày. Phần lớn người ở lại là người già, trẻ con và phụ nữ. Họ xô nhau chạy xuống hầm trú ẩn gần nhất khi nghe tiếng súng. Tại xóm Mỹ An, 15 người già, con trẻ nhanh chóng chui xuống hầm của bà Đặng Thị Thiệu.
Tốp lính đầu tiên chừng chục tên đi thẳng vào làng. Chúng phát hiện ra căn hầm nhà bà Thiệu. Người phiên dịch nhắc lại lệnh của viên chỉ huy, yêu cầu mọi người ra khỏi nơi ẩn nấp, đứng xếp hàng trên miệng hầm. Nhìn những khuôn mặt già nua khắc khổ, những ánh mắt ngây thơ hốt hoảng nép vào lưng mẹ, dường như viên chỉ huy này cảm nhận được sự vô tội của họ nên ra lệnh quay lui. Mọi người thở phào, lục tục kéo lại xuống hầm.
Tuy nhiên, chỉ mười lăm phút sau, một toán lính Nam Triều Tiên khác lại kéo đến hầm bà Thiệu. Chúng ra lệnh cho những người trú ẩn ra khỏi hầm, đứng xếp thành hàng ngang. Một lát sau, chúng bắt bà già, con nít trở vô hầm, phụ nữ cho đứng trên. Cuối cùng chúng lùa luôn phụ nữ xuống. Cho tới lúc thần chết đang cận kề, những người dân vô tội này vẫn không hiểu rõ ý đồ của toán lính thứ hai. Tuy nhiên, tích tắc sau đó một phát súng vang lên, kèm theo một tiếng nổ của lựu đạn. Rất lạnh lùng, chúng thay nhau cứ bắn một phát lại ném một quả lựu đạn xuống hầm. Việc giết người man rợ diễn ra một cách chậm rãi. Gần một tiếng đồng hồ sau chúng mới bỏ đi qua hầm khác.
Tổng cộng trong buổi tắm máu dã man của lính Nam Triều Tiên tại hầm bà Thiệu, có tất thảy 14 người toàn bà già, phụ nữ, trẻ em vô tội bị sát hại thảm thương. Trong số người chết có người đang mang thai, có em mới một, hai tuổi còn ngậm vú mẹ như em Hà Văn Nhâm (một tuổi), em Đoàn Năm (hai tuổi)... Tất cả đều vùi trong căn hầm mà sau này trở thành ngôi mộ chung của họ.
Sáu ngày sống sót trong căn hầm
Cũng toán lính khát máu đó, giết người xong ở xóm Mỹ An chúng kéo qua xóm Vĩnh An cách đó chỉ chừng trăm mét. Vẫn hành vi man rợ như cũ, chúng lùa mọi người xuống hầm, lạnh lùng bắn một phát súng lại ném một quả lựu đạn. Tại hầm bà Lụa, bà Bồn ở xóm Vĩnh An, chúng sát hại thêm 18 thường dân vô tội khác.
Bà Đặng Thị Thiệu, năm đó gần 80 tuổi, chính là bà nội của anh Đoàn Đức, người may mắn hy hữu thoát chết trong buổi sáng máu đổ nói trên. Năm đó, anh Đức vừa sáu tuổi, cùng bà nội, mẹ và em trai trú ở dưới hầm. Khi đó, ngoài đứa em trai một tuổi, mẹ anh Đức đang mang thai trong bụng. Anh nói, dù nhỏ tuổi nhưng cho tới nay, khoảnh khắc sinh tử kinh hoàng của gia đình anh và cuộc đời anh vẫn theo đuổi anh cho đến tận bây giờ.
Khi đám lính Nam Triều Tiên ném gần chục quả lựu đạn xuống hầm bà Thiệu, chờ cho khói tan, viên chỉ huy sai thông dịch viên nói xuống hầm là “Ai còn sống thì mau trèo lên khỏi hầm!”. Trong đám bầy nhầy máu thịt, anh Đoàn Đức ngóc đầu lên thì thấy một phụ nữ, vốn chạy từ Gò Nổi sang trú ẩn vùng này bò lên trước. Vừa lên tới miệng hầm, một loạt đạn tàn nhẫn xô chị ngã gục trở lại. Anh Đức cũng bò lên nhưng chúng không bắn. Một tên lính gí mũi súng vào lưng thúc anh đi. Đi chừng 20 m, đến một căn hầm khác không người trú ẩn, chúng đạp anh xuống hầm rồi ném theo một quả lựu đạn. 





Ông Đức với mảnh lựu đạn vẫn còn in trên cánh tay

 




Làng quê Duy Trinh hôm nay








Hầm nhà bà Thiệu biến thành khu mộ tập thể








Bia tưởng niệm những người dân vô tội

Tưởng anh không thể thoát, chúng bỏ đi. Không ngờ số phận kỳ lạ khiến những loạt đạn và lựu đạn của đám lính Nam Triều Tiên không thể giết chết anh. Tại căn hầm đầu tiên, anh không hiểu vì sao anh sống sót. Nhưng khi tới căn hầm thứ hai, anh biết mình sống sót là nhờ nhanh chân. Khi chúng đạp anh ngã nhào xuống hầm, anh nhanh chóng vùng dậy ngoặt vào một cái ngách ngang trong hầm. Thời đó, hầm trú ẩn vẫn thường có nhiều ngách ngang và ngách thông hơi. Những lúc xóm làng yên bình, không có lính đi càn, anh Đức hay trèo xuống khắp các hầm trong vườn nhà nội mình để chơi nên thuộc lòng ngõ ngách.
Quả lựu đạn cố ý sát hại chỉ làm anh Đức bị trúng một mảnh nhỏ ngay động mạch gần cổ tay, máu ra nhiều làm anh ngất đi. Khi tỉnh dậy, anh rón rén bò lên khỏi hầm. Xóm làng khi đó tan hoang. Khung cảnh im lìm như nghĩa địa. Biết mọi người đã chết hết rồi, anh quay lại xuống hầm.
Suốt năm ngày sáu đêm như vậy anh chìm vào trạng thái nửa tỉnh nửa mê. Đêm thứ sáu, nghe tiếng người hỏi vọng xuống: “Còn ai sống sót dưới đó không?”. Anh khẽ rên lên và mấy người bộ đội nhảy xuống hầm bế anh lên.

Hồ sơ vụ thảm sát Duy Trinh - Bài 2: Câu chuyện của hai người sống sót
19/03/2009
Nghe chúng tôi nhắc đến chuyện cũ đau buồn, khóe mắt ông Kim đã ngân ngấn nước. Buổi sáng kinh hoàng ấy đã biến cậu bé tuổi mười hai thành đứa trẻ mồ côi. Mẹ cậu và hai đứa em của cậu bị chết tan xác ngay dưới hầm. Cha cậu vừa nhảy xuống sông để chạy về phía bên kia cũng bị đám lính Nam Triều Tiên bắn chết, năm ngày sau mới tìm thấy xác.
Ông Kim đau đớn nói rằng hôm ấy lính Nam Triều Tiên muốn giết sạch cả làng. Nó muốn phá tan tất cả và không cho một ai sống sót. “Mọi người trong hầm chết sạch. Đứa em tôi bị gãy hai chân nằm trên tay mẹ đau đớn khóc. Tôi run rẩy ôm đứa em qua miệng hầm phía bên kia. Nghe tiếng la khóc của em tôi, nó lại ném tiếp một quả lựu đạn vào phía miệng hầm chỗ tôi đứng. Tôi ngã ngửa vào hầm góc chữ A. Lúc tỉnh dậy thì không thấy đứa em đâu. Cả hầm toàn máu và xác người nằm la liệt” - ông Kim khóc rưng rức.
Khi bò sang hầm bên kia Kim thấy mọi người đã chết hết. Một lát sau lính Nam Triều Tiên quay trở lại. Chúng chui xuống hầm chỗ ông ẩn náu. Mấy thằng lấy đèn pin soi có ai còn sống không để tiếp tục giết. Khi nghe bọn lính đến, ông nằm xuống bên mấy xác chết, nín thở giả chết. Bọn lính soi và thấy người Kim bị thương, lại có vết máu tưởng đã chết nên bỏ đi. Không dám bò ra khỏi hầm, suốt thời gian từ đó cho đến khi bộ đội về làng cứu ra, Kim nhịn đói nằm bên đống xác chết la liệt.
Tan tác tuổi thơ
Vụ thảm sát đã cướp đi sinh mệnh bà nội, đứa em nhỏ và người mẹ đang mang thai của Đoàn Ngọc Kim. Sau ngày thảm sát không còn ai bấu víu, ông về ở với ông nội. Tuổi thơ Kim là những ngày đi chẻ củi, gánh nước thuê, ở đợ bồng em khắp nơi từ ngoài Huế vào tận trong Ninh Thuận. Kim bồi hồi kể: “Năm ấy gia đình tôi bị giết gần hết. Không còn ai, đói quá nên nghe ai “dắt mối” có gia đình nào cần người ở đợ là tôi tìm đến. Gần 15 năm đi khắp các vùng quê từ Huế đến Ninh Thuận”.
Sau ngày giải phóng, Kim xin vào quân ngũ, chiến đấu tại chiến trường K. Giải ngũ, quay về quê nhưng không biết làm gì để sống. Ông tiếp tục tiếp lang bang, rồi lấy vợ, sinh con và sống bằng nghề “thợ đụng” từ đó đến nay tại Đà Nẵng.
Trong căn nhà cấp bốn tại quận Sơn Trà, ông Kim vừa nhớ lại câu chuyện vừa vuốt nước mắt không nguôi. Quãng đời cơ cực của ông bắt nguồn từ tội ác không thể nào dung thứ của đám lính Nam Triều Tiên trong buổi sáng kinh hoàng hôm ấy. Nó vận vào đời ông, giằng xé từng buồng gan thớ thịt và sẽ còn mãi ám ảnh ông đến lúc chết.
Không có nấm mồ riêng
Số phận của anh Đoàn Đức cũng chẳng khá hơn. Mồ côi mẹ, anh sống một mình với cha. Được ít lâu, cha có vợ kế và Đức về ở với bà này tuốt ở dưới vùng biển Duy Vinh. Hai năm sau, cha Đức qua đời vì bạo bệnh, cậu bắt đầu cuộc đời cay nghiệt. Tuổi mới lên mười nhưng Đức đã ngày hai bận ra đồng cày cuốc để kiếm miếng ăn. Sống được thời gian với mẹ kế, rồi lang bạt khắp vùng làm thuê vẫn không đủ sống.
Đầu năm 1990, trên con đường lang bạt Đức quay về tìm mộ mẹ mình. Trước mắt Đức, cái hầm ngày xưa giờ đã được xây dựng thành cái mồ tập thể. Dân làng bảo với Đức rằng hôm đó do xác của mẹ Đức và mọi người tan từng mảnh, sau nhiều ngày đã phát hủy nên người ta không gom lại được. Họ đành lấp miệng hầm un lên gò đất làm cái mộ tập thể. 


 Khu mộ tập thể này là căn hầm ngày xưa ông Kim ẩn trốn






Bao năm lang bạt khắp xứ, ông Kim trở về làm thợ sửa ống nước


Bia tưởng niệm do một nhóm tình nguyện viên Hàn Quốc xây dựng
Năm 1992, anh dắt vợ từ Duy Vinh trở về quê hương Duy Trinh sinh sống. Dòng họ anh từ sau vụ thảm sát coi như chỉ còn độc một mình anh. Hai vợ chồng, ba đứa con được cấp bốn sào ruộng. Anh tiếp tục sống quãng đời lầm lũi trên mảnh đất ngày xưa, gần cái hầm của bà nội anh mà nay trở thành mồ chôn tập thể.
Mới đây, UBND xã Duy Trinh, huyện Duy Xuyên đã đầu tư kinh phí dựng lên một tấm bia ở giữa ba miệng hầm thảm sát. Ông Lưu Công Cả - Chủ tịch UBND xã Duy Trinh đưa chúng tôi đi thắp hương những ngôi mộ tập thể. Ông nói: “Chiến tranh đã lùi xa, quá khứ rồi cũng sẽ khép lại nhưng người dân Duy Trinh không bao giờ quên những hành vi vô nhân tính nhằm vào những người dân vô tội trên đất này!”.
Câu chuyện về cuộc đời của ông Kim, ông Đức chỉ là một trong muôn ngàn câu chuyện đau thương của đất nước này, dân tộc này do tội ác chiến tranh. Hơn 30 năm trôi qua từ ngày im tiếng súng nhưng ở đây, chiến tranh chưa tan trong lòng người. Khói hương tưởng nhớ những nạn nhân vô tội vẫn tỏa trên mỗi bàn thờ.
Những con người hồn hậu, bao dung hôm nay và con cháu họ sẵn sàng khép lại quá khứ, không đong đếm hận thù. Nhưng đau thương mất mát thì không thể quên. Bởi nó nhắc nhớ mỗi người dân về cái giá của hòa bình.
Những hoạt động gặp gỡ cùng với những đóng góp thiết thực thông qua tổ chức Nawauri (một tổ chức phi chính phủ của Hàn Quốc) như xây dựng trường học, làm đường cùng những người dân địa phương, mọi người có thể thấy những người Hàn Quốc hôm nay đang nỗ lực hàn gắn những vết thương trên mảnh đất này, cũng là vết thương trong lòng họ. 
Theo MINH SƠN - HỮU KHÁ
Pháp Luật TP.HCM

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét